Home Giáo dụcVăn mẫu Top 6 bài văn phân tích Thuế máu lớp 8 của Nguyễn Ái Quốc

Top 6 bài văn phân tích Thuế máu lớp 8 của Nguyễn Ái Quốc

by Thu Hương
6 views

Hướng dẫn cách viết bài văn phân tích Thuế máu lớp 8 của Nguyễn Ái Quốc đạt điểm cao. Mời các bạn cùng tham khảo Top 6 bài văn phân tích Thuế máu lớp 8 đạt điểm cao dưới đây để biết thêm chi tiết.

Thuế máu là một trích đoạn trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc viết lên nhằm tố cáo tội ác của thực dân Pháp. Top 6 bài văn Phân tích Thuế máu lớp 8 của Nguyễn Ái Quốc đạt điểm cao sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về tác phẩm này và những tội ác mà kẻ thù đã gây ra cho người dân quê hương chúng ta.

 Phân tích Thuế máu lớp 8 của Nguyễn Ái Quốc – Bài làm 1

Nguyễn Ái Quốc là một tên gọi khác của chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp người đã từng lấy bút danh là Nguyễn Ái Quốc để nói lên thái độ của mình trước những tội ác của kẻ thù khi xâm phạm quyền tự do của những người dân lao động Việt Nam vô tội.

Đoạn trích “Thuế máu” nằm trong bài viết “Bản án chế độ thực dân Pháp” được tác giả Nguyễn Ái Quốc viết lên nhằm tố cáo những tội ác mà trời không dung đất không tha của thực Pháp tại Việt Nam chúng ta. Chúng lợi dụng hai tiếng “Khai hóa” tưởng như là một việc làm tốt nhưng thực chất chúng vơ vét của cải, bóc lột nhân dân ta tới tận xương tủy.

Bài viết “Thuế máu” trích trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” của tác giả Nguyễn Ái Quốc được viết bằng giọng văn đanh thép, với những bằng chứng sắt đá, khiến cho kẻ thù không thể chối cãi và có sức thuyết phục vô cùng ghê gớm đối với nhân cả nước và nhân dân ưa chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Những số liệu mà tác giả Nguyễn Ái QUốc đưa ra đã khiến cho thực dân Pháp không thể nào chối cãi được. Nguyễn Ái Quốc đã viết bài viết này bằng một thái độ lạc quan rõ ràng không hề cường điệu, hay mang tính châm biếm mỉa mai.

Thông qua bài viết “Thuế máu” trích “Bản án chế độ thực dân Pháp” tác giả Nguyễn Ái Quốc muốn bày tỏ rõ ràng quan điểm yêu nước, tấm lòng căm thù giặc của mình với kẻ thù. Tác giả muốn nhân dân cả nước và nhân dân các nước có thân phận thuộc địa giống như chúng ta hiểu được sự thâm hiểm và âm mưu của kẻ thù mà từ đó có cái nhìn thái độ rõ ràng hơn trong cách sống của mình. Từ ngày mà thực dân Pháp đến khai hóa đất nước chúng ta và một số nước Đông Dương cuộc sống của người dân lao động trở nên khổ cực hơn rất nhiều. Đất nước của các nước thuộc địa vốn đã nghèo nàn lạc hậu, chậm phát triển càng thêm nghèo nàn và chậm phát triển hơn.

Thực dân Pháp chúng luôn cao ngọn cờ khai hóa mang sự văn minh tới với người dân nước ta và các nước Đông Dương. Chúng biến nhân dân ta thành nước thuộc địa của mình thực chất nhằm bóc lột. Chúng đã dùng nhiều thủ đoạn để biến dân ta thành u mê, thành những kẻ ngu dốt cho chúng dễ cai trị. Chúng dùng thuốc phiện, gái và những thói ăn chơi khác mang tới đầu độc người dân nước ta để chúng ta lung lạc tinh thần yêu nước, u mê lệ thuộc vào chúng. Thực chất chúng âm mưu dùng người dân ta làm nô lệ cho mình phục vụ các nhu cầu của chúng, chứ không hề tốt đẹp khai hóa văn minh như chúng nói.

Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần âm mưu của kẻ thù và phanh phui những tội ác của chúng để chúng hiện nguyên hình là một kẻ xâm lược chứ không phải một người khai hóa như chúng nói. Sự tàn ác nhẫn tâm của chúng còn thể hiện ra bằng những chính sách thuế hút máu người, bắt người dân ta phục vụ cho chúng khiến cho người dân của chúng ta ngày càng nghèo đói cùng cực.

Trong công cuộc khai hóa này chúng đã làm cho nhiều người dân vô tội của chúng ta bỏ mạng một cách oan uổng. Với những người dân yêu nước chúng ta dùng sự đàn áp vũ lực một cách dã mãn để chèn ép những chiến sĩ của chúng ta một cách không thương tiếc. Những nhà tù mọc lên nhiều hơn trường học, chúng thôn tính nước ta bằng chế độ ngu dân, bằng tôn giáo và những thói ăn chơi sa đọa.

Với những thủ đoạn của mình chúng ta đã biến nước chúng ta trở thành một điểm chết một nơi để chúng bóc lột vơ vét các tài nguyên khoáng sản của đất nước ta mang về phục vụ cho đất nước của chúng .Một âm mưu thâm độc và đang khinh bỉ.

Thông qua cách viết vô cùng giản dị ngòi bút sắc sảo của mình, tác giả Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần tội ác của kẻ thù gây ra cho người dân chúng ta. Thực dân Pháp chính là kẻ thù không đội trời chung với người dân Việ Nam, là kẻ biến cuộc sống của người dân chúng ta trở nên bất hạnh tăm tối và nghèo đói.

Phân tích Thuế máu lớp 8

Phân tích Thuế máu lớp 8 của Nguyễn Ái Quốc – Bài làm 2

Bản án chế độ thực dân Pháp là một bài văn chương báo chí, được tác giả Nguyễn Ái Quốc viết nhằm tố cáo tội ác của thực dân Pháp trong việc lợi dụng hai chữ khai hóa cho nhân dân nhân ta để vơ vét bóc lột nước ta.

Bài viết có sức thuyết phục ghê gớm bởi những số liệu thống kê mà tác giả đã cung cấp cho người đọc khẳng định những bằng chứng mà thực dân Pháp không thể chối cãi được. Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện quan điểm khách quan của mình trong bài viết, không hề mang màu sắc cường điệu, chính trị.

Thông qua bài viết tác giả muốn phơi bày, tố cáo tội ác của thực dân Pháp với nhân dân nước ta và các nước thuộc địa khác. Bày tỏ lòng căm thù của một người dân yêu nước với kẻ thù xâm lược bóc lột nhân dân mình.

Từ ngày thực dân Pháp “khai hóa” nước ta chúng đã đặt ra rất nhiều các loại thuế vô lí, bóc lột nhân dân ta tới tận xương tủy làm cho nhân dân ta đã nghèo khổ chậm phát triển lại càng trở nên cùng cực nghèo đói.

Chúng luôn dương cao ngọn cờ khai hóa, nhưng thực chất đang âm thầm bóc lột nhân dân ta, mang tới cho nước ta một cuộc chiến tranh vô nghĩa, biến nhân dân ta thành thuộc địa nô lệ cho bọn chúng, không hơn không kém.

Để nhân dân không u mê, mà lầm đường lạc lối làm tay chân cho giặc. Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần âm mưu, cũng như tội ác của của thực dân Pháp. Tác giả phanh phui bộ mặt thật của bọn thực dân cướp nước khiến chúng phải hiện nguyên hình là loài cầm thú đội lốt văn minh khai hóa.

Chính sự tàn ác của thực dân Pháp đã kéo đến một cuộc cách mạng chống giặc ngoại xâm khiến cho nhân dân nước thuộc địa phải trả nhiều máu xương, biết bao nhiêu mạng người đã phải hy sinh trong cuộc chiến tranh phi nghĩa này

Những người dân vô tội buộc lòng phải nghe theo những lời nói của thực dân xâm lược. Chúng nói là khai hóa nhưng nếu người dân nước ta không nghe theo thì sẽ phải chịu những đòn roi, nhà tù…

Người Pháp cậy quyền lực, cậy mình có nhiều vũ khí tối tân có nền văn minh hiện đại muốn sang khai hóa nước An Nam nhỏ bé, xa xôi nhưng thực chất chúng đang reo rắc cái chết, cái nghèo nàn lạc hậu lên dân ta.

Chúng biến dân ta trở thành những kẻ ăn chơi thác loạn bằng ma túy và rượu, khiến cho nhân dân ta chìm trong khói thuốc tự hủy hoại bản thân và giống nòi của mình để chúng dễ bề cai trị. Chúng coi những người dân nghèo khốn khổ như những nô lệ giữ nhà không hơn không kém.

Thông qua lối viết sâu sắc, ngòi bút tinh tế, anh hùng tác giả đã vạch trần bộ mặt lừa bịp, mị dân hại nước của thực dân Pháp lên tiếng cảnh tỉnh người dân hay dũng cảm đứng dậy đòi quyền sống cho mình.

Phân tích Thuế máu lớp 8 của Nguyễn Ái Quốc – Bài làm 3

Bản án chế độ thực dân Pháp của lãnh tụ cách mạng Nguyễn Ái Quốc được viết bằng tiếng Pháp, xuất bản tại Pa-ri năm 1925 và xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1946. Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục có tựa đề Gửi thanh niên Việt Nam, nội dung tố cáo và kết án tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân Pháp trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… đồng thời phản ánh tình cảnh tủi nhục khốn cùng của người dân nô lệ ở các xứ thuộc địa trên thế giới. Từ đó, bước đầu tác giả vạch ra đường lối đấu tranh cách mạng đúng đắn để các dân tộc tự giải phóng, giành quyền độc lập.

Sự ra đời của Bản án chế độ thực dân Pháp đã giáng một đòn tiến công quyết liệt vào chủ nghĩa thực dân ngay tại sào huyệt của chúng và chỉ ra con đường cách mạng cùng tương lai tjk ươi sáng cho các dân tộc bị áp bức. Đầu thế kỉ XX, một số nước lớn ở châu Âu thi nhau xâm chiếm thuộc địa ở nhiều nơi trên thế giới để vơ vệt của cải và nhân lực. Chính sách cai trị của chế độ thực dân rất hà khắc, dã man nên cuộc sống nhân dân thuộc địa vô cùng cực khổ. Làn sóng cách mạng giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi dâng lên ngày càng mạnh mẽ.

Đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) mà Nguyễn Ái Quốc mỉa mai gọi là cuộc chiến tranh vui tươi thực chất là cuộc xung đột ác liệt giữa các đế quốc để tranh giành ảnh hưởng và quyền lợi. Nó đẩy nhân dân lao động ở các nước tư bản và dân chúng nghèo khổ ở thuộc địa vào lò lửa chiến tranh thảm khốc.

Bản án chế độ thực dận Pháp là tác phẩm được Nguyễn Ái Quốc dành nhiều thời gian và công sức để hoàn thành. Mỗi chương của tác phẩm viết về một chủ đề và tất cả hợp thành bản cáo trạng phong phú, đanh thép về tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân, về cuộc sống khốn cùng của người dân các xứ thuộc địa. Với thiên phóng sự điều tra này, lần đầu tiên trên thế giới, chế độ thực dân bị lên án một cách toàn diện, cụ thể, chính xác và có hệ thống.

Bản án chế độ thực dân Pháp thể hiện lòng căm thù mãnh liệt những thế lực thống trị tàn bạo, đồng thời bày tỏ tình yêu thương thắm thiết những kiếp người nô lệ nghèo khổ, phản ánh ý chí chiến đấu giành độc lập, tự do cho các dân tộc thuộc địa của Nguyễn Ái Quốc. Đồng thời tác phẩm cũng thể hiện tài năng văn chương của tác giả qua nghệ thuật trào phúng, đả kích sắc sảo.

Thuế máu là chương đầu tiên của Bản án chế độ thực dân Pháp, ở chương này, tác giả tập trung vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa và các thủ đoạn tàn bạo của thực dân Pháp trong việc dùng người dân thuộc địa làm vật hi sinh trong các cuộc chiến tranh thảm khốc để mang lại quyền lợi cho nước Pháp. Lợi dụng xương máu của những con người nghèo khổ để làm giàu, đó là một trong những tội ác ghê tởm nhất của chủ nghĩa thực dân.

Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất xấu xa ấy bằng những lập luận chặt chẽ và tư liệu phong phú, xác thực, nhiều hình ảnh giàu giá trị biểu cảm. Giọng điệu chung của bài văn là vừa kết án đanh thép vừa mỉa mai chua chát, vừa thông cảm, xót thương.

Cái tên Thuế máu bao hàm nhiều ý nghĩa. Nó gợi lên số phận bi thảm của người dân thuộc địa, đồng thời biểu lộ thái độ căm phẫn trước tội ác ghê tởm của chính quyền thực dân. Người dân thuộc địa phải gánh chịu nhiều thứ thuế bất công, vô lí, song có lẽ một trong những thứ thuế tàn ác, dã man nhất là thứ thuế thu bằng xương máu và tính mạng của họ.

Trình tự và cách đặt tên các phần trong chương Thuế máu cũng hàm ý bóc trần các chính sách lừa bịp để bóc lột người dân thuộc địa đến tận xương tủy của chính quyền thực dân cai trị. Từ Chiến tranh và người bản xứ đến Chế độ lính tình nguyện rồi Kết quả của sự hi sinh, qua các phần tiếp nối nhau như thế, Nguyễn Ái Quốc đã từng bước phơi bày bản chất “ăn thịt người” của bè lũ thực dân.

Ở phần này, tác giả nêu bật sự đối lập trong thái độ của các quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa ở hai thời điểm: trước khi xảy ra chiến tranh và khi chiến tranh vừa bùng nổ.

Trước chiến tranh, người dân thuộc địa bị bọn thực dân cai trị coi là giống người hạ đẳng, ngang hàng với súc vật: … họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, những tên “An-nam-mít” bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta. Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, bọn thực dân cần lính, cần người tham gia chiến tranh thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền” của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa. Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cho cái danh hiệu tối cao là “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”.

Tác giả đưa ra hai thái độ trái ngược hoàn toàn ấy nhằm tố cáo thủ đoạn lừa bịp bỉ ổi của chính quyền thực dân trong việc biến dân thuộc địa thành vật hi sinh. Luận điệu bịp bợm trơ trẽn của chúng được Nguyễn Ái Quốc nhắc lại với dụng ý châm biếm và đả kích sâu cay.

Phân tích Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc

Số phận bi thảm của người dân thuộc địa trong cuộc chiến tranh phi nghĩa được tác giả miêu tả rất cụ thể: … họ phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu.

Tác giả đã kể ra bao cái chết thảm thương của người lính thuộc địa trên khắp các chiến trường miền Nam nước Pháp bằng giọng văn trào lộng nhưng chất chứa cảm xúc xót xa, ngậm ngùi:

Trong lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiến cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thủy quái. Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Ban-căng… Một số khác nữa thì anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mác-nơ, hoặc trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ…

Nhiều người dân thuộc địa tuy không phải ra trận nhưng ở hậu phương, họ bị bắt buộc làm công việc rất nguy hiểm là chế tạo vũ khí phục vụ chiến tranh: Làm kiệt sức trong các xưởng thuốc súng ghê tởm, tuy không phải hít hơi ngạt của bọn “bô-sơ”, nhưng lại nhiễm phải những luồng khí độc đỏ ối của người Pháp; Họ cũng hứng chịu bệnh tật và những cái chết đau đớn, vì những kẻ khốn khổ ấy cũng đã khạc ra từng miếng phổi, chẳng khác gì hít phải hơi ngạt vậy.

Tác giả đã nêu ra một con số khủng khiếp về số người bản xứ đã bỏ mình trôn đất Pháp trong mấy năm chiến tranh thế giới thứ nhất: Tổng cộng cố bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, tám vạn người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa.

Ở phần này, tác giả vạch trần các mánh khóe và thủ đoạn bắt lính của bọn thực dân. Có thật là người dân thuộc địa tình nguyện hiến dâng xương máu cho “nước mẹ Đại Pháp” như lời lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền hay không? Tác giả kể rằng:

Một bạn đồng nghiệp nói với chúng tôi: Dân lao khổ bản xứ ở Đông Dương từ bao đời nay bị bóp nặn bằng đủ mọi thứ thuế khóa, sưu sai, tạp dịch, bằng cưỡng bức phải mua rượu và thuốc phiện theo lệnh quan trên, từ 1915 – 1916 tới nay, lại còn phải chịu thêm cái vạ mộ lính nữa.

Những biến cố trong mấy năm gần đây là cái cớ để kẻ thù tiến hành những cuộc lùng ráp lớn về nhân lực trên toàn cõi Đông Dương. Những người bị bắt đều bị nhốt vào trại lính với đủ thứ tên: lính khố đỏ, lính thợ chuyên nghiệp, lính thợ không chuyên nghiệp,… Bọn thực dân coi lính thuộc địa không phải là người mà chỉ là thứ vật liệu biết nói. Cách gọi đó tự nó đã có tác dụng tố cáo mạnh mẽ bản chất dối trá, lừa bịp và dã man của chính quyền thực dân. Những viên công sứ Pháp (đứng đầu một tỉnh) cùng bọn quan lại dưới quyền tiến hành vây bắt và cưỡng bức người dân phải đi lính, lợi dụng chuyện bắt lính để dọa nạt, xoay xở kiếm tiền đối với những nhà giàu:

Thoạt tiên, chúng tóm những người khỏe mạnh, nghèo khổ những người này chỉ chịu chết thôi không còn kêu cứu vào đâu được. Sau đó, chúng mới đòi đến con cái nhà giàu. Những ai cứng cổ thì chúng tìm ngay ra dịp để sinh chuyện với họ hoặc với gia đình họ, và nếu cần, thì giam cổ họ lại cho đến khi họ phải dứt khoát chọn lấy một trong hai con đường: “đi lính tình nguyện, hoặc xì tiền ra”.

Chúng sẵn sàng trói, xích, nhốt người ta như nhốt súc vật và đàn áp dã man nếu như dám chống đối. Tác giả đã kể ra sự thực phũ phàng là người dân thuộc địa chỉ có hai con đường: hoặc trốn tránh hoặc phải xì tiền ra. Thậm chí họ còn tìm cách tự làm cho mình nhiễm phải những căn bệnh nặng nhất để khỏi phải đi lính.

Trong khi làm những điều độc ác như đã kể trên, chính quyền thực dân vẫn không ngừng rêu rao về tinh thần tình nguyện đầu quân của người dân thuộc địa. Lời tuyên bố trịnh trọng của phủ toàn quyền Đông Dường chỉ làm bộc lộ rõ thêm thủ đoạn lừa bịp trơ trẽn ấy:

Loading...
Xem thêm:  Top 10 bài văn tả cảnh biển lớp 3 đạt điểm cao

Ấy thế mà trong một bản bố cáo với những người bị bắt lính, phủ toàn quyền Đông Dương, sau khi hứa hẹn ban phẩm hàm cho những lính sẽ còn sống sót và truy tặng những người sẽ hi sinh “cho tổ quốc”, đã trịnh trọng tuyên bố rằng:

“Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiết bao trìu mến để người thì hiến xương máu của mình như lính khố đỏ, kẻ thì hiến dâng cánh tay lao động của mình như lính thợ”.

Tác giả mỉa mai chua chát luận điệu dối trá ấy bằng những câu hỏi tu từ:

Nếu quả thật người An Nam phấn khởi đi lính đến thế, tại sao lại có cảnh, tốp thì bị xích tay điệu về tỉnh, tốp thì trước khi xuống tàu, bị nhốt trong một trường trung học ở Sài Gòn, có lính Pháp canh gác, lưỡi lê tuốt trần, đạn lên nòng sẵn? Những cuộc biểu tình đổ máu ở Cao Miên, những vụ bạo động ở Sài Gòn, ở Biên Hòa và nhiều nơi khác nữa, phải chăng là những biểu hiện của lòng sốt sắng đầu quân “tấp nập” và “không ngần ngại”?

Trong phần Chế độ lính tình nguyện, tác giả đã đưa ra hàng loạt dẫn chứng thực tố đối lập hoàn toàn với luận điệu bịp bợm của bọn thực dân cầm quyền để lột trần bản chất tham lam và tàn bạo của chúng trong chính sách cai trị đối với người dân thuộc địa.

Phần ba: Kết quả của sự hi sinh.

Kết quả sự hi sinh của người lính thuộc địa trong các cuộc chiến tranh và cách đối xử của chính quyền thực dân sau khi đã bóc lột xương máu họ đã được tác giả miêu tả bằng những hình ảnh, chỉ tiết tiêu biểu có sức tố cáo rất lớn:

Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyển nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép lạ, và cả người Nê-gơ-rô” lẫn người “An nam-mít” mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu”.

Để ghi nhớ công lao người lính An Nam, chẳng phải người ta đã lột hết tất cả của cải của họ, từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mới toanh mà họ bỏ tiền túi ra mua, đến các vật kỉ niệm đủ thứ,… trước khi đưa họ đến Mác-xây xuống tàu về nước đó sao? Chẳng phải người ta đã giao họ cho bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập họ vô cớ đó sao? Chẳng phải người ta đã cho họ ăn như cho lợn ăn và xếp họ như xếp lợn dưới hầm tàu ẩm ướt, không giường nằm, không ánh sáng, thiếu không khí đó sao ? về đến xứ sở, chẳng phải họ đã được một quan cai trị biết ơn đón chào nồng nhiệt bằng một bài diễn văn yêu nước: “Các anh đã bảo vệ Tổ quốc, thế là tốt. Bây giờ, chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!”đó sao?

Mỉa mai thay, khi chiến tranh vừa chấm dứt thì các lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyền cũng tự dưng im bặt (!) Những người lính từng được tâng bốc bằng bao lời lẽ hoa mĩ thì bây giờ mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu” như trước đây.

Đối với người dân thuộc địa, sự hi sinh cho chính nghĩa và công lí như lời rêu rao đối trá của lũ thực dân chẳng hề mang lại lợi ích gì cho họ bởi chế độ bản xứ là chế độ không hề biết đến chính nghĩa và công lí.

Bộ mặt tráo trở của chính quyền thực dân bộc lộ trắng trợn qua những hành động vô nhân đạo: tước đoạt hết của cải mà người lính thuộc địa mua sắm được, đánh đập họ vô cớ, đối xử với họ thô bỉ như đối với súc vật. Sau chiến tranh, người dân thuộc địa trở về vị trí hèn hạ ban đầu:

Thế là những “cựu binh” – đúng hơn là cái xác còn lại – sau khi đã dũng cảm bảo vệ chính nghĩa và công lí nay tay không trở về với chế độ bản xứ của họ, một,chế độ không biết gì đến chính nghĩa và công lí cả.

Ba phần của chương Thuế máu được sắp xếp theo trình tự thời gian trước, trong và sau khi xảy ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất 1914 – 1918. Với cách sắp xếp này, bộ mặt giả nhân giả nghĩa và bản chất độc ác của chính quyền thực dân Pháp xung quanh việc bóc lột xương máu được phơi bày toàn diện, triệt để. Mặt khác, thân phận thảm thương của người dân nô lệ các xứ thuộc địa cũng được phản ánh một cách chân thực và sinh động.

Nghệ thuật châm biếm, đả kích sắc sảo của ngòi bút Nguyễn Ái Quốc thể hiện chủ yếu qua hệ thống hình ảnh chọn lọc, tiêu biểu, những từ ngữ giàu khả năng gợi tả, gợi cảm và chất chứa sức mạnh tố cáo tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân.

Ngôn ngữ tác phẩm mang màu sắc trào phúng rất rõ nét. Những từ mỉa mai như; “con yêu”, “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”, “lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế”, “lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế”, “vật liệu biết nói…” vừa phơi bày bản chất dã man của chủ nghĩa thực dân, vừa tô đậm số phận bi thảm của người dân thuộc địa.

Tác giả sử dụng rất thành công nghệ thuật gậy ông đập lưng ông bằng cách nhắc lại những mĩ từ, danh hiệu hào nhoáng mà chính quyền thực dân khoác cho người lính thuộc địa để bóc trần bản chất lừa bịp vô liêm sỉ của chúng. Tác giả dùng liên tiếp các câu hỏi tu từ để phơi bày sự thật trái ngược với lời lẽ bịp bợm của bọn cầm quyền. Các câu chuyện, các sự kiện, con số được nêu ra đều lấy từ thực tế nên không thể chối cãi. Để tăng tính thuyết phục của lí lẽ, khi cần, tác giả còn dẫn ra ý kiến của người khác hay của chính đối tượng bị đả kích.

Từ hệ thống hình ảnh và giọng điệu chung của tác phẩm, người đọc nhận ra thái độ yêu ghét rõ ràng của tác giả: căm phẫn chính quyền thực dân tàn ác và xót xa thương cảm cho thân phận người dân nô lệ của các nước thuộc địa bị bóc lột đến cả xương máu, tính mạng.

Đoạn trích Thuế máu của tác giả Nguyễn Ái Quốc đã giúp người đọc hiểu được bản chất độc ác, dã man và bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chính quyền thực dân Pháp qua việc dùng người dân các xứ thuộc địa làm vật hi sinh để bảo vệ quyền lợi của chúng trong các cuộc chiến tranh tàn khốc. Tác phẩm cũng chứng minh Nguyễn Ái Quốc là một cây bút chính luận xuất sắc trong văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Phân tích Thuế máu lớp 8 của Nguyễn Ái Quốc – Bài làm 4

Năm 1925, tác phẩm “Bán án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp được xuất bản tại Pari. Tác phẩm đã tố cáo và kết án những tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân Pháp, đồng thời phản ánh cuộc sống tủi nhục, đau thương của những người dân nô lệ ở các xứ thuộc địa trên thế giới”.

Đoạn trích “Thuế máu” rút trong Chương I “Bản án chế độ thực dân Pháp” với nhan đề “Thuế máu” rất độc đáo, có giá trị tố cáo tội ác của bọn thực dân một cách đanh thép. Các tiêu đề bổ sung như: 1. Chiến tranh và người bản xứ: 2. Chế độ lính tình nguyện; 3. Kết quả của sự hi sinh – đã làm nổi rõ cái thứ vô cùng kì lạ và vô nhân đạo. Những người An-nam-mít, những nô lệ da đen phải làm bia đỡ đạn cho bọn thực dân Pháp và bị đối xử một cách vô cùng dã man. Ta hãy tìm hiểu và phân tích mục “Chiến tranh và người dân bản xứ”.

Trước khi có chiến tranh thì những thanh niên “bản xứ” chỉ là “những tên da đen bẩn thỉu”, “những tên An-nam-mít bẩn thỉu” chi biết làm cu-li kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị da trắng. Nhưng khi chiến tranh vừa bùng nổ, bọn thục dân đã xảo quyệt dùng mọi thủ đoạn lừa mị, bịp bợm biến nhũng kẻ khốn nạn ấy thành “con yêu ” bạn hiền của các quan cai trị “phụ mẫu nhân hậu”, của các quan “toàn quyền lớn, toàn quyền bé”, họ được phong cho các danh hiệu tối cao là bảo vệ công lí và tự do.

 Tác giả đã sử dụng thủ pháp tương phản để vạch trần giọng lưỡi, thủ đoạn bịp bợm quắt quay của bọn thực dân trong việc bắt nô lệ “bản xứ” làm bia đỡ đạn, một cách đánh “thuế máu” vô cùng xảo quyệt. Các từ ngữ như “chiến tranh vui tươi” ,”lập tức họ biến thành”, “đùng một cái”, “được phong cho cái danh hiệu tối cao” đã làm cho giọng văn châm biếm trở nên sâu cay, mỉa mai.

Nguyễn Ái Quốc đã gợi lên những mất mát đau thương của nhũng thanh niên bản xứ bị bắt đi làm bia đỡ dạn. Họ phải “xa vợ con, phải “rời bỏ” quê hương, mảnh ruộng, đàn cừu. Họ đi “phơi thây” trên các bãi chiến trường châu Âu. Có biết bao cảnh chết chóc thương tâm. Chết vì thủy lôi, “được xuống tận đáy biển để bảo  tổ quốc của các loài quỷ quái”. Bị “đem nướng”, đã “bỏ xác” tại các vùng hoang vu Ban-căng, để ” lúc chết còn tự hỏi phải chăng nước mẹ muốn chiêm ngôi nguyên phi trong cung cấm vua Thổ”. Xương máu của họ, cái chết của họ thật vô nghĩa, hoặc “anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát” trên bờ sông Mác-nơ, trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ, hoặc “lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy” hoặc “lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế”. Tác giả đã kết hợp miêu tả với bình luận để mỉa mai, châm biếm cái “thuế máu” của bọn thực dân.

 Những người lính thợ không bị bỏ xác trên các bãi chiến trường thì lại bị đầu độc, phải lao động khổ sai, “làm kiệt sức” trong các xưởng thuốc súng ghê tởm “nhiễm phải những luồng khí độc đỏ ối”. Những kẻ khốn khổ ấy “đã khạc ra từng miếng phổi” chẳng khác gì hít phải hơi ngạt vậy ! Đó là một sự “trả giá” rùng rợn của “dân bản xứ” đối với chiến tranh.

Những con số dưới ngòi bút Nguyễn Ái Quốc thật sự Bảy mươi vạn người bản xứ bị đánh thuế máu, và trong số ấy có tám vạn người đã chết đau đớn, vô nghĩa không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa.

 Đọc mục “Chiến tranh và người dân bản xứ trong chương ta vô cùng xúc động trước số phận đau thương của những bản xứ, những nô lệ da đen, da vàng đã phải nộp “thuế máu” cho bọn thục dân Pháp trong đại chiến thế giới lần thứ nhất.

 Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng sắc sảo các thủ pháp nghệ thuật như tương phản đối lập, kết hợp miêu tả với bình luận, nêu lên những con số, những sự thực, đặc biệt tạo nên lững lời văn, giọng văn chua cay để vạch trần, để lên án, để châm biếm loại “thuế máu” một trong những hình thức bóc lột dã man nhất của thực dân Pháp.

 Trong suốt 80 năm thống trị nước ta, thực dân Pháp đã đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí , bóc lột dân ta đến tận xương tuỷ. Sưu thuế dã man đã làm tan nát, điêu linh bao gia đình. Ta quên sao được hình ảnh anh Dậu “bị trói như gió để giết thịt”, chú Hợi đã chết từ năm ngoái vẫn “không trốn được nợ nhà nước”.Chị Dậu phải bán con, bán chó để nộp sưu cho chồng. Nhưng khi đọc chương ‘Thuế máu” trong “Bản án chế độ thực dân Pháp”, ta vô cùng kinh khủng về bộ mặt ghê tởm của bọn thực dân Pháp. là một trong những tội ác tày trời của chúng. “Thuế máu” đã bóc trần luận điệu “khai hoá”, “bảo hộ” của thực dân Pháp.

Phân tích Thuế máu lớp 8 của Nguyễn Ái Quốc – Bài làm 5

Văn bản “Thuế máu” của Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ thái độ đê mạt của đám quan cai trị thực dân đối với người dân thuộc địa ở hai thời điểm trước chiến tranh và khi chiến tranh xảy ra đồng thời đồng cảm sâu sắc với số phận bi thảm của những người dân thuộc địa trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa của thực dân.

Trước chiến tranh, các đấng cai trị xem những người dân thuộc địa là “những tên da đen bẩn thỉu… giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta”. Chúng coi các dân tộc thuộc địa là chưa được “khai hoá văn minh”, là “dã man”, “mọi rợ”,… Nhưng khi chiến tranh bùng nổ, lập tức họ được các quan cai trị tâng bốc lên, khoác cho những danh hiệu cao quý: những người bạn, những nhà ái quốc,… và rồi đẩy họ đi khắp các chiến trường.

Cách đối xử của bọn thực dân lộ rõ bản chất bỉ ổi và thủ đoạn lừa bịp của chúng. Những người An Nam nói riêng và người dân các nước thuộc địa nói chung, vô hình chung đã trở thành vật hi sinh, trở thành những tấm lá chắn cho Pháp trên khắp các chiến trường.

Và họ phải nhận lấy một số phận bi thảm, trở thành vật tế trong những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Họ đành chấp nhận đột ngột xa gia đình, quê hương vì những mục đích vô nghĩa, vì những vinh dự hão huyền mà các đấng “khai hoá” khoác lên mình họ. Họ bị biến thành những vật hi sinh cho lợi ích của bọn cầm quyền: phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu, bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng, trở thành mồi cho cá mập, vùi xác dưới những đáy biển lạnh lẻo,…. Những người không trực tiếp ra trận thì cũng bị vắt kiệt sức trong các xưởng thuốc súng ghê tởm hoặc bị nhiễm bệnh bởi muôn vàn các chất độc hại khác mà chết. Những thống kê số liệu về sự hi sinh của những người dân đen tội nghiệp ấy càng khắc sâu thêm tình cảnh bi thảm của họ: Tổng cộng có bảy mươi vạn người bản xứ đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, tám vạn người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa.

Phân tích Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc lớp 8

Phân tích Thuế máu lớp 8 của Nguyễn Ái Quốc – Bài làm 6

Trên con đường hoạt động cách mạng của mình, Bác Hồ luôn xem văn chương là thứ vũ khí đấu tranh lợi hại, có tác dụng giáo dục to lớn. “Thuế máu” là áng văn giàu chất chính luận. Tác phẩm như một bản án tố cáo thủ đoạn và chính sách vô nhân đạo của bọn thực dân đẩy người dân thuộc địa vào các lò lửa chiến tranh. Một trong những yếu tố làm nên thành công của tác phẩm đến từ nhan đề “Thuế máu”.

Là một công dân, hẳn chúng ta đều quen thuộc với các loại thuế: thuế thu nhập cá nhân, thuế kinh doanh, thuế ruộng, thuế đất… Vào tình cảnh đất nước ta là thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ, người dân đã nghèo khổ lại còn phải gánh trên lưng trăm thứ thuế: thuế muối, thuế gạo, thuế đất, thuế thân… Thậm chí người đã chết cũng phải đóng thuế như trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Thế nhưng, thuế máu lại gây một ấn tượng mạnh cho người đọc. Thứ thuế được trả bằng máu làm cho người khác không khỏi rùng mình kinh hãi. Thứ thuế máu ấy được tạo ra khi đế quốc Pháp muốn củng cố địa vị của mình bằng các cuộc chiến tranh phi nghĩa trên chiến trường quốc tế, họ có ngại gì không bắt đám dân “dễ bảo” kia mang xương máu ra mà cống nộp. Vậy là ngay từ nhan đề, ta đã có thể hình dung phần nào về sự khốn khổ cùng số phận bi thảm của những người dân An Nam thuộc địa đầu thế kỉ.

Để thu thứ “thuế máu” ấy, chính quyền thực dân đã thực hiền nhiều thủ đoạn bỉ ổi và tàn nhẫn. Chúng giở nhiều thủ đoạn, mánh khóe xảo trá đối với người dân thuộc địa. Nếu như trước chiến tranh, họ được xem là giống người hạ đẳng, là “man di, mọi rợ”, thì khi chiến tranh xảy ra, họ được tâng bốc là những “con yêu”, “bạn hiền”, “những chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”. Sự tương phản ấy được tác giả vạch trần bằng giọng điệu mỉa mai nhằm châm biến sự giả dối, thâm độc của chế độ thực dân. “Thuế máu” được trưng thu bằng những hành động vô cùng tàn nhẫn. Chúng tiến hành vây bắt, cưỡng bức, đàn áp dã man nếu phản đối, lợi dụng việc bắt lính để xoay sở kiếm tiền, bắt người dân thuộc địa phải rời bỏ gia đình, quê hương, buộc họ bỏ mạng nơi những miền đất xa lạ, bị biến thành vật hi sinh cho lợi ích, danh dự của chủ nghĩa thực dân. Thuế máu chính là thứ thuế ghê gớm, độc ác nhất của thực dân Pháp, đè lên số phận thảm thương của người dân sau bao áp bức, bóc lột. Còn sau khi đã bóc lột hết “thuế máu” của họ thì sao? Bộ mặt táo tợn, tàn nhẫn của bọn thực dân tiếp tục được bộc lộ khi tước hết của cải của người lính thuộc địa, đánh đập họ vô cớ, đối xử với họ như súc vật. Người dân thuộc địa lại trở về vị trí hèn hạ như ban đầu sau khi bị bóc lột hết thuế máu. Họ tiếp tục bị lừa dối, bị áp bức, bị đẩy vào tình cảnh túng quẫn, là nạn nhâm của chính sách cai trị hiểm độc. Nhan đề “Thuế máu” không chỉ gợi số phận thảm thương của người dân thuộc địa, nó còn bao hàm cả thái độ mỉa mai và lòng căm phận của tác giả đối với chính quyền thực dân. Nghệ thuật lập luận đặc sắc ở chỗ kết hợp giữa miêu tả và bình luận để châm biếm thứ thuế máu của bọn thực dân, giọng văn chua cay để vạch trần, lên án những hình thức bóc lột dã man của thực dân Pháp, trong đó có thuế máu.

“Thuế máu” đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm ngay từ nhan đề. “Thuế máu” với sức gợi mở vô cùng lớn thực sự đã gây nên nỗi ám ảnh cho người đọc về một thời kì u tối trong lịch sử.

Chúng tôi hy vọng rằng với Top 6 bài văn phân tích Thuế máu lớp 8 của Nguyễn Ái Quốc đạt điểm cao được tổng hợp trên đây sẽ giúp cho các bạn học tốt Ngữ Văn.

Thu Hương

 

Xem thêm:  Top 8 bài văn phân tích vẻ đẹp của nhân vật Phương Định Trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi
Loading...

Có thể bạn quan tâm

Leave a Comment